48. Sớ Vu Lan I

(Thu Lai Nguyệt Đáo)

 

Nguyên văn:

 

伏以

秋來月到、嗟夫半點之難追、德重恩深、念也寸毫之莫及、式遵上古、壇啟中元拜疏爲越南國......縣[]...社...村、家居恭詣于...寺奉

佛修香諷經中元盂蘭勝會、追薦先靈祈陰超陽泰事。今齋主(弟子)...惟日仰干

大覺世尊俯垂接度。痛念求薦

奉爲...之香靈。仝承

佛力以超昇、全賴經文而解脫。茲者辰維孟月、節屬秋天、迺地官赦罪之期、依尊者度親之日。由是虔仗禪和宣揚法事、諷誦

大乘法寶尊經、加持徃生淨土神呪、頂禮

三身寶相、萬德金容、集此殊勝善因、普願陰超陽泰。今則謹具疏文、和南拜白。

南無十方常住三寶一切諸佛尊法賢聖僧作大證明。

南無娑婆敎主本師釋迦牟尼佛蓮座證明。

南無大悲觀世音菩薩。

南無大孝目犍連菩薩。恭奉、遍法界諸尊菩薩摩訶薩、蓮池會上、無量聖賢、共降威光、仝垂接度。伏願、鑒臨不遠、庇佑孔弘、一眞默證靈乘、法輪妙轉、百世善根自在、福果團圓。仰賴

佛恩證明不可思議也、謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、沙門號...和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Thu lai nguyệt đáo, ta phù bán điểm chi nan truy; đức trọng ân thâm, niệm dã thốn hào chi mạc cập; thức tuân thượng cổ, đàn khải Trung Nguyên.1

Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia cư cung nghệ vu … Tự phụng Phật tu hương phúng kinh Trung Nguyên Vu Lan2 Thắng Hội, truy tiến tiên linh kỳ âm siêu dương thái sự. Kim trai chủ (đệ tử) ... duy nhật ngưỡng can

Đại Giác Thế Tôn phủ thùy tiếp độ. Thống niệm cầu tiến:

Phụng vị ... chi hương linh.

Đồng thừa Phật lực dĩ siêu thăng, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.

Tư giả thần duy mạnh nguyệt, tiết thuộc Thu thiên, nãi Địa Quan3 xá tội chi kỳ, y Tôn giả4 độ thân chi nhật. Do thị kiền trượng Thiền hòa tuyên dương pháp sự, phúng tụng Đại Thừa pháp bảo tôn kinh, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú, đảnh lễ Tam Thân bảo tướng, vạn đức kim dung, tập thử thù thắng thiện nhân, phổ nguyện âm siêu dương thái. Kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái bạch.

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng tác đại chứng minh.

Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật liên tọa chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên5 Bồ Tát.

Cung phụng: Biến pháp giới chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Liên Trì hội thượng vô lượng thánh hiền, cọng giáng uy quang, đồng thùy tiếp độ.

Phục nguyện: Giám lâm bất viễn, tỷ hựu khổng hoằng; nhất chơn mặc chứng linh thừa, pháp luân diệu chuyển; bách thế thiện căn tự tại, phước quả đoàn viên. Ngưỡng lại Phật ân chứng minh bất khả tư nghì dã, cẩn sớ.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Sa Môn hiệu ... hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Thu về trăng đến, than ôi nửa điểm khó theo thay; đức nặng ân sâu, nhớ chút mảy lông cũng khó được; xưa tuân nghi thức, đàn mở Trung Nguyên.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, kính thành đến Chùa …, dâng hương tụng kinh, Trung Nguyên Vu Lan Thắng Hội, dâng cúng tiên linh, cầu âm siêu dương thái. Trai chủ (đệ tử) ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Thế Tôn, xót thương tiếp độ. Xót nghĩ cầu xin:

Hương linh ...

Cùng nương Phật lực được siêu thăng, thảy nhờ văn kinh mà giải thoát. Hôm nay nhân dịp đầu mùa, tiết thuộc trời Thu; Địa Quan xá tội gặp thời, nương ngày Tôn giả cứu mẹ; do đây nhờ sức chúng tăng tuyên dương pháp sự, trì tụng tôn kinh pháp bảo Đại Thừa, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; đảnh lễ Ba Thân tướng báu, muôn đức dung vàng; lấy nhân thù thắng lành nầy, nguyện khắp âm siêu dương thái. Nay xin dâng trọn sớ văn, kính thành lạy thỉnh:

Kính lạy Ba Ngôi thường trú trong mười phương, hết thảy đức Phật, tôn pháp, hiền thánh tăng, chứng giám cho.

Kính lạy Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, giáo chủ Ta Bà, ngồi trên tòa sen, chứng giám cho.

Kính lạy Quán Thế Âm Bồ Tát thương xót chứng minh cho.

Kính lạy Bồ Tát Đại Hiếu Mục Kiền Liên chứng minh cho.

Cùng xin: Chư vị Bồ Tát Ma Ha Tát khắp pháp giới, Liên Trì Hội thượng, vô lượng thánh hiền, đều giáng uy quang, xót thương tiếp độ.

Lại nguyện: Giám lâm gần đó, phò trợ rộng xa; một linh thầm chứng lên xe, pháp luân chuyển khắp; trăm đời thiện căn tự tại, quả phước đoàn viên. Ngưỡng lạy ơn Phật, chứng minh không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Sa môn hiệu ... thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Trung Nguyên (中元): tức Trung Nguyên Tiết (中元節), đối với Thượng Nguyên (中元) nhằm ngày rằm tháng giêng âm lịch, Hạ Nguyên (下元) vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, Trung Nguyên nhằm vào ngày rằm tháng 7 âm lịch. Trung Nguyên Tiết là tên gọi của Đạo Giáo, Vu Lan Bồn Tiết (盂蘭盆節) là tên gọi của Phật Giáo, còn gọi là Trung Nguyên Phổ Độ (中元普渡), Hiếu Tử Tiết (孝子節), Ngày Xá Tội Vong Nhân. Thuyết Tam Nguyên nầy phát xuất từ Đạo Giáo, sau nầy lễ Trung Nguyên được hỗn hợp với truyền thống Vu Lan Bồn của Phật Giáo để cúng dường và cầu siêu độ cho các vong linh đã quá cố. Vì vậy khi nói đến Trung Nguyên cũng có nghĩa là Vu Lan Bồn. Bên cạnh đó, theo truyền thống Phật Giáo, rằm tháng 7 cũng là ngày xá tội vong nhân, ngày chư Phật hoan hỷ, ngày Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraā, 自恣) của chư tăng ni, như trong Tuế Thời Quảng Ký (時廣記) quyển 29, phần Kinh Sở Tuế Thời Ký (荊楚歲時記) có đề cập rằng: “Tứ nguyệt thập ngũ nhật nãi Pháp Vương cấm túc chi thần, Thích tử hộ sanh chi nhật, tăng ni dĩ thử nhật tựu Thiền sát kết hạ lực, hựu vị chi Kết Chế; cái trưỡng dưỡng chi tiết tại ngoại hành, khủng thương thảo mộc trùng loại; cố cửu thập nhật an cư, chí thất nguyệt thập ngũ nhật Giải Hạ, hựu vị chi Giải Chế (四月十五日乃法王禁足之辰釋子護生之日僧尼以此日就禪剎結夏力又謂之結制蓋長養之節在外行恐傷草木蟲類故九十日安居至七月十五日解夏又謂之解制, rằm tháng tư là ngày đấng Pháp Vương [đức Phật] cấm túc [giới hạn đi ra ngoài], là ngày người con Phật bảo vệ sinh mạng, tăng ni lấy ngày nầy đến các Thiền viện Kết Hạ An Cư, còn gọi là Kết Chế; lấy năng lực đó nuôi lớn, giới hạn việc đi ra ngoài, sợ làm tổn thương cây cỏ, côn trùng; cho nên sau 90 ngày An Cư, đến ngày rằm tháng 7 thì Giải Hạ [kết thúc kỳ Kết Hạ An Cư], còn gọi là Giải Chế).” Sau ngày Giải Hạ, từ ngày 16 tháng 7 âm lịch trở đi, cuộc sống mới bắt đầu; vì vậy ngày rằm tháng 7 cũng tượng trưng cho sự phục hoạt và sinh sống mới. Xưa kia, trong dân gian vẫn thường gọi lễ hội nầy là Quỷ Tiết (鬼節). Tương truyền có một hôm nọ, cửa Địa Ngục mở tung ra, các âm linh, quỷ sứ dưới âm ty được tự do thoát ra ngoài. Người nào có chủ thì về nhà mình, người không chủ thì đi lang thang, vất vưởng đây đó; cho nên, trong dân gian thường thiết lễ tụng kinh cầu nguyện vào dịp tháng 7 để cầu siêu độ các âm linh cô hồn, để họ không gây họa cho con người, và trở lại phò trợ cho tật bệnh tiêu trừ, gia trạch bình an. Về truyền thuyết của lễ hội nầy, bên cạnh thuyết đệ tử của đức Phật là Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連) cứu mẹ như được thuyết trong Vu Lan Bồn Kinh (s: Ulambanasūtra, 盂蘭盆經) của Phật Giáo, về phía dân gian cũng như Đạo Giáo, có truyền thuyết khác liên quan đến tiền giấy. Theo thuyết của Thái Luân (蔡倫, khoảng 63-121) thời Đông Hán (東漢, 25-220) sau khi phát minh ra tiền giấy, cuộc sống hưng thịnh, khá giả, tiền của dư dật. Anh trai ông là Thái Mạc (蔡莫) cùng với chị Huệ Nương (慧娘) thấy vậy rất thèm muốn. Cả hai cùng đến gặp Thái Luân xin học cách chế tạo giấy. Tuy nhiên, tâm của Thái Mạc thì quá nôn nóng muốn làm giàu, nên công phu học tập tuy chưa thuần thục đã vội mở tiệm kinh doanh. Cuối cùng, kết quả cho thấy rằng giấy do ông làm ra có phẩm chất không tốt, bị mọi người chê trách; cả hai vợ chồng ngồi buồn rầu rĩ. Chợt Huệ Nương nảy ra một diệu kế, bàn nhỏ với chồng và thực hiện. Có một đêm nọ, người dân hàng xóm bỗng nhiên nghe tiếng khóc lóc thảm thiết vọng lại từ nhà của Thái Mạc. Mọi người chạy đến xem hư thực, mới biết là Huệ Nương đã chết tối hôm qua. Đến sáng hôm sau, trước mặt mọi người, Thái Mạc kêu gào bi thương bên quan tài vợ hiền, vừa khóc vừa đốt giấy. Bỗng nhiên, từ trong quan tài vọng ra tiếng nói rằng: “Mở cửa ra, mở cửa ra ! Ta sống lại đây !” Người tham dự kinh sợ, cuối cùng có người gan dạ mới dám bước đến mở nắp quan tài ra. Huệ Nương từ trong quan tài bước ra kể với mọi người rằng sau khi bà qua đời, sanh xuống cõi âm; khi ấy Diêm Vương xét tội trạng và ban cực hình, chịu cực khổ muôn vàn. Nhưng nhờ có Thái Mạc đốt giấy tiền, chúng tiểu quỷ thâu lấy đem dâng cho Diêm Vương; cho nên Diêm Vương mới tha cho trở về lại dương gian. Nghe vậy, Thái Mạc giả vờ hỏi: “Ta đâu có đốt tiền.” Huệ Nương lấy tay chỉ vào đống tro tàn bảo: “Dưới cõi âm đó chính là tiền.” Từ đó, người dân mới phát hiện ra công dụng và lợi ích của tiền giấy; họ đỗ xô đến tiệm của Thái Mạc mua giấy tiền về cúng. Ngày Huệ Nương sống lại cũng đúng vào rằm tháng bảy; cho nên cũng nhân ngày nầy, dân chúng mua giất tiền đốt dâng cúng tổ tiên cũng như những người đã qua đời. Theo Đạo Giáo, ngày Thượng Nguyên là ngày Thiên Quan (天官) ban phước; ngày Trung Nguyên là ngày Địa Quan (地官) xá tội; và ngày Hạ Nguyên là ngày Thủy Quan (水官) giải ách. Cho nên, vào ngày rằm tháng 7, dân gian thường chuẩn bị các mâm cỗ cúng rất phong phú để dâng cúng cho Địa Quan cũng như tổ tiên quá cố. Về tập tục cúng tế vào dịp Trung Nguyên nầy, có nhiều tài liệu ghi lại như tác phẩm Đường Lục Điển (唐六典, tức Đại Đường Lục Điển [唐六典]) do Đường Huyền Tông Lý Long Cơ (唐玄宗李隆基, 685-762) soạn và nhóm Lý Lâm Phủ (李林甫, ?-752) chú, ghi rằng: “Trung Thượng Thự thất nguyệt thập ngũ nhật tấn Vu Lan Bồn (中尚署七月十五日進盂蘭盆, vào ngày rằm tháng bảy, Trung Thượng Thự [cơ quan chuyên trách đồ ẩm thức hiến cúng] hiến cúng Vu Lan Bồn).” Như vậy, đương thời việc tiến cúng Vu Lan Bồn vào dịp Trung Nguyên là định lệ trong cung nội. Trong Đông Kinh Mộng Hoa Lục (東京夢華錄) quyển 8 do Mạnh Nguyên Lão (孟元老, ?-?) nhà Tống soạn có đoạn: “Tiên sổ nhật, thị tỉnh mại minh ngoa hài, kim tê giả đái, ngọc thải y phục, … cập ấn mại Tôn Thắng Mục Liên Kinh (先數日市井賣冥器靴鞋金犀假帶五綵衣服及印賣尊勝目蓮經, trước [Trung Nguyên] vài ngày, phố xá có bán các thứ giày dép, tê giác vàng, dây đai giả, y phục lụa năm màu đồ âm binh, … và mua Tôn Thắng Mục Liên Kinh).” Hay như trong Đế Kinh Cảnh Vật Lược (帝京景物略) quyển 2 do Lưu Đồng (劉侗, khoảng 1593-1636) và Vu Dịch Chánh (于奕正, ?-?) nhà Minh soạn, có kể rằng: “Thập ngũ nhật, chư tự kiến Vu Lan Hội, dạ ư thủy thứ phóng đăng, nhật phóng hà đăng (十五日諸寺建盂蘭會夜於水次放燈日放河燈, vào ngày rằm, các chùa mở hội Vu Lan, đêm về thả đèn trên nước, ban ngày thả đèn trên sông).” Hoặc như trong Huyền Đô Đại Hiến Kinh (玄都大獻經) của Đạo Giáo có dạy rằng: “Thất nguyệt thập ngũ nhật, Trung Nguyên chi tiết dã; … thị nhật Địa Quan hiệu duyệt, sưu thuyết chúng nhân, phân biệt thiện ác, chư thiên Thánh chúng, phổ nghệ cung trung, giản định kiếp số nhân quỷ bộ lục, ngạ quỷ tù đồ, nhất thời câu tập, dĩ kỳ nhật tác Huyền Đô đại trai, địch ư Ngọc Kinh, cập thái hoa quả, thế gian sở hữu kỳ dị chi vật, ngoạn lộng phục sức, tràng phan bảo cái, trang nghiêm cúng dường chi cụ, thanh thiện ẩm thực, bách vị phân phương, hiến chư chúng Thánh, cập dữ đạo sĩ, dữ kỳ nhật nguyệt giảng tụng thị kinh, thập phương Đại Thánh, cao lục linh thiên, tù đồ ngạ quỷ, đương thời giải thoát, nhất câu bão mãn, miễn ư chúng khổ, đắc tuyển nhân trung; nhược phi như thử, nan khả bạt thoát (七月十五日中元之節也是日地官校閱搜說眾人分別善惡諸天聖眾譜詣宮中簡定劫數人鬼簿錄餓鬼囚徒一時俱集以其日作玄都大齋敵於玉京及採諸花果世間所有奇異之物玩弄服飾幢幡寶蓋莊嚴供養之具清膳飲食百味芬芳獻諸眾聖及與道士與其日月講誦是經十方大聖高錄靈篇囚徒餓鬼當時解脫一俱飽滿免於眾苦得選人中若非如此難可拔脫, ngày rằm tháng bảy là Tiết Trung Nguyên; ngày nầy Địa Quan xét duyệt, sưu tra mọi người, phân biệt thiện ác; các Thánh trên trời, tập trung trong cung điện, định rõ sổ bộ kiếp số của quỷ và con người, chúng quỷ đói giam tù, cùng lúc tập họp, lấy ngày nầy làm ngày cúng chay Huyền Đô, tranh nhau cúng ở Ngọc Kinh; cùng chọn các thứ hoa quả, những vật kỳ dị hiếm có trên đời, áo quần trang phục vua đùa, tràng phan lọng báu, các vật cúng dường trang nghiêm, mâm cỗ ăn uống trong sạch, trăm vị thơm ngon, hiến cúng các bậc Thánh, cùng những đạo sĩ, vào ngày tháng nầy giảng tụng kinh nầy; các Đại Thánh trong mười phương, ghi rõ sổ linh; chúng quỷ đói bị giam cầm, lúc bấy giờ được giải thoát, hết thảy đều no đủ, xa lìa các khổ, được sanh làm người; nếu không làm như vậy, khó được giải thoát)”, v.v. Lễ hội nầy cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống tâm linh con người Á Châu, dầu bất cứ tôn giáo nào đi nữa; cho nên, văn chương, thi phú ca ngợi nhiều về nó. Như Linh Cô Sở (令孤楚, 766-837) có làm bài thơ Nhật Tặng Trương Tôn Sư (日贈張尊師) về Tiết Trung Nguyên rằng: “Ngẫu lai nhân thế trị Trung Nguyên, bất hiến Nguyên Đô vị nhật nhàn, tịch tịch phần hương tại tiên quán, tri sư diêu lễ Ngọc Kinh San (偶來人世值中元不獻元都未日閒寂寂焚香在仙觀知師遙禮玉京山, tình cờ nhân thế gặp Trung Nguyên, chẳng cúng Nguyên Đô chưa an nhàn, lẳng lặng đốt hương nơi tiên quán, biết thầy xa lễ Ngọc Kinh San).” Thi sĩ Ân Nghiêu Phiên (殷堯藩, ?-?) nhà Đường có bài Trung Nguyên Quán Pháp Sự Bộ Hư (中元觀法事步虛) rằng: “Ngột đô khai bí lục, bạch thạch lễ tiên sanh, thượng giới thu quang tịnh, Trung Nguyên dạ khí thanh, tinh thần triều đế xứ, tư hạc bộ hư thanh, ngọc động hoa trường phát, châu cung nguyệt tối minh, tảo đàn thiên địa túc, đầu giản quỷ thần kinh, thảng tứ Đao Khuê Dược, hoàn lưu bất tử danh (兀都開秘籙白石禮先生上界秋光淨中元夜氣清星辰朝帝處鷥鶴步虛聲玉洞花長發珠宮月最明掃壇天地肅投簡鬼神驚儻賜刀圭藥還留不死名, kinh đô bày bí điển, đá trắng lạy tiên sanh, cõi trên ánh thu lắng, Trung Nguyên đêm khí trong, sao trời chầu đế chúa, cò hạc bước thong dong, động ngọc hoa nở ngát, cung báu trăng sáng ngần, quét đàn trời đất dịu, gieo ống quỷ thần kinh, nếu ban Đao Khuê Thuốc [thuốc tán viên bột], lưu mãi bất tử danh).” Trong khi đó, Biên Cống (邊貢, 1476-1532) nhà Minh có làm bài Trung Nguyên Kiến Nguyệt (中元見月) như sau: “Tọa ái thanh quang hảo, cánh thâm bất hạ lâu, bất nhân phùng nhuận nguyệt, kim dạ thị trung thu (坐愛清光好更深不下樓不因逢閏月今夜是中秋, ngồi ngắm ánh trăng sáng, hồi lâu chẳng xuống lầu, chẳng hay gặp tháng nhuận, đêm nay là giữa thu)”, v.v.
  2. Vu Lan (盂蘭) hay Vu Lan Bồn (盂蘭盆): âm dịch của tiếng tục ngữ Ấn Độ ullambana, được xem như là viết sai của từ avalambana, ý là đảo huyền (倒懸), giải đảo huyền (解倒懸). Đảo huyền ở đây có nghĩa là bị treo ngược, đầu chúc xuống đất, chân treo trên trời; tức ví dụ cho cảnh khốn khổ cùng cực, vô cùng nguy hiểm. Từ nầy có xuất phát từ Mạnh Tử (孟子), Công Tôn Xú (公孫醜): “Đương kim chi thế, vạn thừa chi quốc hành nhân chính, dân chi duyệt chi, do giải đảo huyền dã (當今之時萬乘之國行仁政民之悅之猶解倒懸也, trên đời ngày nay, có nước có vạn cỗ xe thực hành chính sách nhân từ, người dân vui mừng với chính sách đó, như giải được cảnh khốn khổ cùng cực)”; trong Tạng Hồng Truyện (藏洪傳) của Hậu Hán Thư (後漢書) cũng có đoạn rằng: “Bắc Bỉ tương nhược đảo huyền chi cấp (北鄙將若倒懸之急, cõi phương bắc xem đó như là sự cấp bách của cảnh khốn khổ cùng cực).” Cho nên, ngoài ý nghĩa là giải mở cái khổ bị treo ngược, giải đảo huyền còn có nghĩa là giải cứu cảnh khốn khổ cùng cực. Vu Lan Bồn là lễ hội nhằm giải cứu chúng sanh ngạ quỷ đang chịu những cảnh khổ đói khát, suy nhược, v.v. Bên cạnh đó, cũng có thuyết cho rằng từ Vu Lan Bồn vốn phát xuất từ nguyên ngữ ullambana (cứu độ), nhưng cả hai thuyết trên không có xác chứng rõ ràng. Gần đây có thuyết cho rằng nó phát xuất từ ngôn ngữ cũng như nghi lễ nông canh của trung ương Châu Á. Theo Kinh Vu Lan Bồn (s: Ullambanasūtra, 盂蘭盆經), mẹ của Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連), đệ tử của đức Phật, lúc sanh tiền tạo nhiều tội nghiệp, sau khi chết sanh vào đường Ngạ Quỷ, không ăn được, chịu rất nhiều nỗi khổ. Vì vậy, để giải thoát nỗi khổ nầy, đức Phật đã dạy Mục Kiền Liên thiết trai cúng dường chúng tăng trăm vị thức ăn vật uống nhân ngày Tự Tứ, rằm tháng 7, và thiết lễ cúng thí thực Ngạ Quỷ, cho nên nhờ công đức đó mà cái khổ trong đường Ngạ Quỷ của cha mẹ bảy đời cũng như cái khổ của cha mẹ đời sau cũng được tiêu trừ. Từ truyền thuyết nầy, lễ hội Vu Lan ra đời. Nó được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản và phổ cập trong tầng lớp thứ dân đương thời. Lễ hội nầy kết hợp tư tưởng bố thí và Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣) của chư tăng trong Phật Giáo với tư tưởng hiếu đạo và Trung Nguyên của Trung Quốc, để hình thành nên Phật sự cúng dường tổ tiên không thể thiếu được. Hội Vu Lan Bồn còn được gọi là Bồn Hội (), Hoan Hỷ Hội (歡喜會), Hồn Tế (魂祭), v.v. Vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, người ta dựng một cái Nhà Vong Linh, rồi triệu thỉnh các vong linh của ông bà tổ tiên đã qua đời về tại đó và cung thỉnh chư tăng đến tụng kinh cầu nguyện. Trong khoảng thời gian nầy, trai chủ cúng dường trai phạn, vật phẩm cho chúng tăng để tích lũy công đức và hồi hướng lên cho ông bà tổ tiên mình. Phát xuất từ tâm tư mỗi năm vào dịp lễ hội Vu Lan nầy muốn cho ông bà được ở lâu với mình hơn nữa, người ta kéo dài kỳ hạn ra thêm, dài nhất là từ ngày 13 cho đến 16 tháng 7, nhưng trọn tháng 7 được xem như là tháng Vu Lan Bồn. Ở vùng nông thôn, do vì có liên quan đến mùa vụ cho nên thời gian tổ chức lễ hội nầy trễ hơn đến ngày rằm tháng 8. Tháng 7 âm lịch gặp tiết mùa Thu, cho nên nguyên lai lễ Hội Vu Lan Bồn là Phật sự mùa Thu. Theo ký lục xưa nhất như Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) cho thấy rằng ở Trung Quốc lễ hội nầy được tiến hành đầu tiên vào năm 538 (năm thứ 4 niên hiệu Đại Đồng [大同]). Lúc bấy giờ, vua Lương Võ Đế thân chinh thiết lễ cúng dường trai tăng Vu Lan Bồn tại Đồng Thái Tự (同泰寺). Bên cạnh đó, trong Kinh Sở Tuế Thời Ký (楚歲時記) do Tông Lẫm (宗懍, khoảng 501-565) nhà Lương thời Nam Triều soạn, cũng có ghi rằng: “Thất nguyệt thập ngũ nhật, tăng ni đạo tục tất doanh bồn cúng chư Phật (七月十五日僧尼道俗悉營盆供諸佛, vào ngày rằm tháng bảy, chư tăng ni và tín đồ tại gia đều chuẩn bị Vu Lan Bồn để dâng cúng chư Phật).” Tại Nhật Bản là năm 606 (năm thứ 14 niên hiệu Suy Cổ [推古]). Vào tháng 4 năm nầy, cũng như mỗi năm vào ngày mồng 8 tháng 4 và rằm tháng 7, Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628) có thiết trai cúng dường. Đến năm thứ 3 (657) đời Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō, tại vị 655-661), nhà vua cho dựng tượng Tu Di Sơn (須彌山) ở Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera), thiết lập Vu Lan Bồn Hội cúng dường; rồi đến ngày rằm tháng 7 năm 659 thì cho tiến hành thuyết giảng Vu Lan Bồn Kinh tại các ngôi chùa trong kinh đô để hồi hướng công đức cho cha mẹ bảy đời. Vào tháng 7 năm thứ 5 (733) niên hiệu Thiên Bình (天平) đời vua Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749), nhà vua cho thiết lập chức quan Đại Thiện (大膳) để lo việc cúng dường thức ăn trong lễ hội Vu Lan Bồn; từ đó, lễ hội nầy trở thành Phật sự thông lệ trong cung nội, được quy định tổ chức vào ngày 14 tháng 7 âm lịch hằng năm với tên gọi là Vu Lan Bồn Cúng (盂蘭盆供). Đến thời Nại Lương (奈良, Nara, 710-794), Bình An (平安, Heian, 794-1185), lễ hội được công khai tổ chức vào ngày rằm tháng 7. Và đến thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333) thì Thí Ngạ Quỷ Hội (施餓鬼會, Segakie, tức Lễ Cúng Thí Thực, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn) được kết hợp tiến hành trong dịp Vu Lan Bồn. Từ đó trở về sau, lễ Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn thường được tiến hành song song với lễ hội trọng đại nầy.
  3. Địa Quan (地官): tên gọi của 6 chức quan dưới thời nhà Chu, tương đương với chức Tư Đồ (司徒), chuyên giám sát những việc liên quan đến giáo dục, đất đai và nhân sự. Đây cũng là tên vị quan dưới âm ty Địa Ngục. Địa Quan còn là tên gọi của một trong 3 vị của Tam Quan Đại Đế (官大帝), chính danh là Địa Quan Đại Đế (地官大帝), Trung Nguyên Nhị Phẩm Xá Tội Địa Quan (中元二品赦罪地官), Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), lệ thuộc Thượng Thanh Cảnh (上清境), do khí của Nguyên Động Hỗn Linh (元洞混靈) và tinh màu vàng hỗn hợp lại thành, tổng chủ quản Ngũ Đế (五帝), Ngũ Nhạc (五嶽), các thần tiên. Ông phụng sắc chỉ của Ngọc Hoàng Thượng Đế (玉皇上帝), quản chưởng việc tội ác của con người và đến ngày rằm tháng 7 thường hạ phàm, chỉnh đốn việc tội phước cũng như xá tội cho con người. Giống như Thiên Quan, Địa Quan cũng có vài truyền thuyết khác nhau. Có truyền thuyết cho rằng ông là vua Thuấn, do vì ông có công lao to lớn trong việc khai khẩn đất đai, người dân tưởng nhớ và tôn thờ ông như là vị thần. Vua Thuấn họ Diêu (), tên là Trọng Hoa (重華), con cháu đời thứ 8 của Hoàng Đế (黃帝); cha tên Cổ Tẩu (瞽叟), mẹ là Ác Đăng (握登), hạ sanh Thuấn ở vùng đất Diêu Hư (姚虛). Ông để tang mẹ lúc còn nhỏ, cha lại tái giá, sanh được một con tên là Tượng (). Cậu bé nầy tánh tình ngạo mạn, thường cùng với mẹ ghẻ hành hạ Thuấn. Tuy nhiên, Thuấn bẩm tính nhân từ, lại rất hiếu thảo và có tài hoa hơn người, thường cày ruộng ở Lịch Sơn (歷山), bắt cá ở Lôi Trạch (雷澤), săn bắn ở Phụ Hạ (負夏), làm đồ gốm ở Hà Tân (河濱); cho nên, người dân dẫn cả gia đình dòng họ đi theo ông để học tập các kỷ năng thao tác. Chỉ trong 2 năm, ông đã hình thành nên thôn ấp, rồi 3 năm thì phát triển thành đô thị; từ đó, uy đức và tiếng tăm của ông vang xa. Vua Nghiêu bèn tuyển người hiền và nhường ngôi cho Thuấn. Sau khi vua Thuấn băng hà, Đạo Giáo tôn sùng ông như là vị thần, chuyên xá tội cho con người vào dịp Tiết Trung Nguyên. Do vì ông chí hiếu với song thân, cho nên Tiết Trung Nguyên còn được gọi là Hiếu Tử Tiết (孝子節). Lại có thuyết cho rằng dưới thời Chu U Vương (周幽王) có 3 vị quan liêm chính là Cát Ung (葛雍), Đường Hoằng (唐宏) và Chu Thật (周實). Cả ba đều từ quan, sống cuộc đời tự tại với thiên nhiên. Đến thời vua Chơn Tông nhà Tống, họ được phong làm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Ngôn Vương Gia (言王爺) có 3 người con gái đều gả cho Trần Tử Thung (陳子摏) làm vợ; mỗi người hạ sanh được một trai, bẩm tánh khác người; nhân đó, Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) phong cho cả ba làm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan, sắc mệnh chuyên cai quản Ba Cõi, được gọi là Tam Quan Đại Đế. Trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經), phần Địa Quan Bảo Cáo (地官寶誥) của Đạo Giáo có đoạn về Địa Quan rằng: “Chí tâm quy mạng lễ, Thanh Linh Động Dương, Bắc Đô Cung trung, bộ Tứ Thập Nhị Tào, giai cửu thiên vạn chúng, chủ quản Tam Giới Thập Phương Cửu Địa, chưởng ác Ngũ Nhạc Bát Cực Tứ Duy, thổ nạp âm dương, khiếu nam nữ thiện ác thanh hắc chi tịch, từ dục thiên địa, khảo chúng sanh lục tịch phước họa chi danh, pháp nguyên hạo đại, nhi năng ly Cửu U hạo kiếp, thùy quang nhi năng tiêu vạn tội, quần sanh phụ mẫu, tồn một triêm ân, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Trung Nguyên thất khí, xá tội Địa Quan, Động Linh Thanh Hư Đại Đế, Thanh Linh Đế Quân (志心皈命禮青靈洞陽北都宮中部四十二曹偕九千萬眾主管三界十方九地掌握五嶽八極四維吐納陰陽竅男女善惡青黑之籍慈育天地考眾生錄籍禍福之名法源浩大而能離九幽浩劫垂光而能消萬罪群生父母存沒沾恩大悲大願大聖太慈中元七氣赦罪地官洞靈清虛大帝青靈帝君, Một lòng quy mạng lễ: Thanh Linh Động Dương, trong Bắc Đô Cung, cai quản 42 bộ quan, nhiếp chín ngàn vạn chúng, chủ quản Ba Cõi, Mười Phương, Chín Xứ, chấp chưởng Năm Núi, Tám Cực, Bốn Phương, nhổ thâu âm dương, xét hồ sơ thiện ác, trắng đen của nam nữ, từ bi nuôi dưỡng trời đất, kiểm tra từng tên họa phước của hồ sơ chúng sanh, pháp vốn lớn không cùng, mà có thể lìa kiếp nạn của chốn Cửu U, nương ánh sáng mà có thể tiêu vạn tội, bậc cha mẹ của quần sanh, người còn kẻ mất đều được thấm nhuần ơn, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, bảy khí Trung Nguyên, xá tội Địa Quan, Động Linh Thanh Hư Đại Đế, Thanh Linh Đế Quân).”
  4. Tức Tôn giả Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連).

Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連): gọi tắt là Mục Liên (目連, 目蓮), một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, sinh ra trong một gia đình Bà La Môn ở ngoại Thành Vương Xá (s: Rājagha; p: Rājagaha, 王舍城) thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀). Ông rất thâm giao với Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 利弗), người con của dòng họ Bà La Môn ở làng bên cạnh. Ban đầu, cả hai đều theo làm đệ tử của một trong 6 vị thầy ngoại đạo là San Xà Dạ (s: Sañjaya, 刪闍夜), nhưng sau đó nhân nghe được lời thuyết pháp của đức Phật ở Thành Vương Xá, họ đã quy y theo Phật và Mục Kiền Liên trở thành vị đệ tử thần thông đệ nhất. Tương truyền chính ông đã cúng dường cho chúng tăng vào ngày Tự Tứ để cứu độ mẹ mình đang bị đọa lạc vào đường ngạ quỷ và hình thành nên lễ hội Vu Lan Bồn. Như trong Kinh Sở Tuế Thời Ký (楚歲時記) có đoạn: “Mục Liên kiến kỳ vong mẫu sanh Ngạ Quỷ trung, tức dĩ bát thạnh phạn, vãng hướng kỳ mẫu, thực vị nhập khẩu, hóa thành hỏa thán, toại bất đắc thực; Mục Liên đại khiếu, trì hoàn bạch Phật, Phật ngôn nhữ mẫu tội trọng, phi nhữ nhất nhân sở nại hà, đương tu thập phương chúng tăng uy thần chi lực, chí thất nguyệt thập ngũ nhật, đương vi thất đại phụ mẫu ách nạn trung giả, cụ bách vị ngũ quả, dĩ trước bồn trung, cúng dường thập phương đại đức, Phật sắc chúng tăng, giai vi thí chủ, chúc nguyện thất đại phụ mẫu, hành Thiền định ý, nhiên hậu thọ thực; thị thời Mục Liên mẫu, đắc thoát nhất thiết ngạ quỷ chi khổ (目連見其亡母生餓鬼中以缽盛飯徃餉其母食未入口化成火炭遂不得食目連大叫馳還白佛佛言汝母罪重非汝一人所奈何當須十方眾僧威神之力至七月十五日當爲七代父母厄難中者具百味五果以著盆中供養十方大德佛敕眾僧皆爲施主祝願七代父母行禪定意然後受食是時目蓮母一切餓鬼之苦, Mục Liên thấy mẹ mình sanh trong Ngạ Quỷ, liền lấy bát đựng đầy cơm, đến cho mẹ ăn, thức ăn chưa vào miệng, đã hóa thành than lửa, cuối cùng chẳng ăn được. Mục Liên khóc lớn, trở về thưa lại với Phật. Phật bảo rằng mẹ ông tội nặng, không phải một mình ông có thể gánh vác được, cần phải nhờ vào oai lực của mười phương chúng tăng; đến ngày rằm tháng 7, nên vì bảy đời cha mẹ đang bị ách nạn, chuẩn bị đầy đủ trăm vị và năm món quả, đem đựng trong cái bồn để cúng dường những vị có đức lớn trong mười phương; Phật dạy chúng tăng, tất cả đều vì thí chủ mà cầu nguyện cho cha mẹ bảy đời, hành Thiền định, sau đó mới thọ nhận món ăn. Lúc bấy giờ mẹ của Mục Liên, được thoát khỏi cảnh khổ của ngạ quỷ).”